Những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Gần đây đội ngũ Luật sư của Luật Rong Ba nhận được rất nhiều câu hỏi về chủ đề những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Nắm bắt đực nhu cầu đó của quý khách hàng, bài viết dưới đây của chúng tôi sẽ phân tích và đánh giá các quy định về những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như mộtt số vướng mắc trên thực tế khi áp dụng các tình giết giảm nhẹ này.

Khái niệm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là những dấu hiệu mang tính chủ quan và khách quan của hành vi phạm tội, không là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt mà chỉ là căn cứ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với trường hợp phạm tội.

Các quy định của pháp luật về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Điều 51 Bộ Luật hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội bao gồm:

– Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

– Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;

Đây là tình tiết giảm nhẹ được áp dụng khá phổ biến trong các vụ án hình sự và cũng được các Luật sư bào chữa cho các bị cáo áp dụng một cách triệt để nhất. Khi một hành vi phạm tội được thực hiện và đã gây ra thiệt hại (sức khỏe, vật chất) và người thực hiện hành vi phạm tội đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả thì tình tiết khắc phục, bồi thường đó được xem là một tình tiết giảm nhẹ. Một vấn đề quan trọng cần lưu tâm ở đây là tự nguyện, nghĩa là chưa có một sự ép buộc nào từ phía cơ quan có thẩm quyền (bằng một bản án hoặc quyết định) yêu cầu phải thực hiện nhưng người phạm tội đã thực hiện một cách chủ động.

– Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

– Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

– Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;

– Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;

– Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

Tình tiết này giảm nhẹ này có 2 vấn đề cần chú ý, thứ nhất nguyên nhân dẫn đến thực hiện tội phạm là do hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đó không phải do mình tạo ra. Hiểu một cách nôm na người phạm tội xuất phát phần lớn do từ sức ép của hoàn cảnh chứ ý chí chủ quan không hoàn toàn mong muốn việc thực hiện tội phạm. Nói một cách dân dã thì phạm tội vì bất đắc dĩ phải thực hiện, nếu hoàn cảnh không đặc biệt khó khăn thì đã không thực hiện tội phạm. Nguyên nhân phát sinh tội phạm có nhiều và hoàn cảnh là một trong nhiều những yếu tố phổ biến nhất dẫn đến tội phạm – bần cùng sinh đạo tặc, nhưng không phải tất cả người rơi vào hoàn cảnh khó khăn mà thực hiện phạm tội đều xem xét là tình tiết giảm nhẹ mà có khó khăn này phải là đặc biệt – đã là đặc biệt thì rất hiếm.

– Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

– Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

– Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;

Đây là trường hợp phạm tội mà trước khi thực hiện tội phạm, ý chí của người phạm tội đã bị tác động bởi một bên thứ ba, tất nhiên vẫn thỏa yếu tố về mặt chủ quan trong cấu thành tội phạm nhưng trước khi có hành vi thực hiện tội phạm, người phạm tội đã bị đe dọa, cưỡng bức. Thông thường các trường hợp này người thực hiện tội phạm có một sự phụ thuộc nhất định vào người thứ 3 (quan hệ gia đình, quan hệ cấp trên cấp dưới v.v…) hoặc người thứ 3 lợi dụng việc rơi vào tính trạng quẩn bách, cùng túng của đối tượng mà ép họ thực hiện hành vi phạm tội.

– Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;

Một ví dụ dễ thấy nhất để có thể hiểu được tình tiết giảm nhẹ này là các trường hợp phạm tội sau khi đã sử dụng rượu, bia và các chất kích thích khác như các loại ma túy v.v…dẫn đến hạn chế hoặc mất luôn khả năng nhận thức điều khiển hành vi. Tuy nhiên những trường hợp hợp này chỉ được xem là tình tiết giảm nhẹ khi không có lỗi của người thực hiện hành vi phạm tội. Ví dụ: A bị ép buộc phải sử dụng ma túy đá (nếu không sử dụng sẽ bị đánh chẳng hạn) thì sau khi sử dụng và rơi vào tình trạng ngáo đá thì khi thực hiện tội phạm tình tiết này có thể xem là tình tiết giảm nhẹ. Tuy nhiên việc A chủ động sử dụng hoặc bạn bè gợi ý sử dụng hoặc sự ép buộc mang tính chất khơi gợi (A có quyền từ chối) và cũng rơi vào tình trạng ngáo thì khi thực hiện tội phạm, tình tiết này không được xem là tình tiết giảm nhẹ vì A đã có lỗi, đã tự đưa mình vào trạng thái hạn chế (mất) khả năng nhận thức.

những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sư

– Phạm tội do lạc hậu;

Tình tiết giảm nhẹ này thông thường áp dụng đối với người phạm tội là đồng bào dân tộc thiểu số ở một số nơi mà tập tục còn lạc hậu. Tình tiết giảm nhẹ này cũng khá hợp lý, không phải mặt bằng trình độ nhận thức của mọi người trong xã hội này là như nhau, đặc biệt là một số vùng xa xôi hẻo lánh, không có điều kiện tiếp xúc với nền giáo dục nhiều, trình độ dân trí còn hạn chế nên đa số họ thực hiện các hành vi theo những tập tục của họ mà những tập tục đó đến nay đã không còn phù hợp thậm chí là còn vi phạm pháp luật. Một trong các biểu hiện thường thấy nhất của tình tiết này là việc các đồng bào dân tộc miến núi chữa bệnh bằng các phương pháp cổ xưa như trói lại và đánh để con ma trong người xuất ra khỏi người bệnh hoặc dìm xuống nước cho con ma bị ngạt thở mà xuất đi v.v…những cách làm này nhiều khi dẫn đến tình trạng chết người do người bệnh không chịu nổi đòn roi hay bị ngạt thở. Những trường hợp như vậy vẫn truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng do sự lạc hậu mà ra (một phần do hiệu quả tuyên truyền nâng cao nhận thức còn hạn chế) nên việc xem xét giảm nhẹ là hợp lý.

– Người phạm tội là phụ nữ có thai;

– Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;

– Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;

Tình tiết này thể hiện rõ sự khoan hồng của Nhà nước đối với những thành phần yếu thế của xã hội. Thực tế rất hiếm những trường hợp người khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng thực hiện hành vi phạm tội do sự tương quan về sức khỏe, thể lực. Do đó những hành vi phạm tội (nếu có) được thực hiện bởi những chủ thể này thường là những hành vi không sử dụng nhiều đến thể lực như tội cố ý gây thương tích, cướp v.v…Thông thường đó là những tội liên quan đến trộm cắp, cũng có thể là giết người nhưng thường là sử dụng thủ đoạn như đầu độc và nạn nhân thường là những người thân trong gia đình. Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên là những người khuyết tật thường bị xúc phạm về mặt tư tưởng hay bị xem là gánh nặng dẫn đến họ nảy sinh tư tưởng phạm tội để trả thù.

– Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

– Người phạm tội tự thú;

– Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

Đây là tình tiết giảm nhẹ có thể nói là được áp dụng nhiều nhất trong các bản án hình sự được tuyên. Luật sư bào chữa và bị cáo luôn tận dụng một cách triệt để tình tiết này để có thể được giảm án. Tuy nhiên thực tế đây cũng là tình tiết mà dễ bị cơ quan điều tra sử dụng làm mồi để thực hiện việc mớm cung, gây oan sai.

– Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án;

– Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

– Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;

– Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ.

Ngoài ra, khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc “tình tiết khác” là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.

Vai trò của những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Một trong những căn cứ quan trọng để Tòa án quyết định một mức hình phạt cụ thể đối với người phạm tộ

Thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước ta đối với người phạm tội

Đảm bảo quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đặc biệt là đối với những người có nhiều thành tích trong chiến đấu, học tập và công tác; những người có công với cách mạng và thân nhân của họ

Thể hiện tính khách quan, mềm dẻo, linh hoạt trong quá trình giải quyết vụ án

Khuyến khích người phạm tội thành khẩn khai báo, thành khẩn hối lỗi trước hành vi phạm tội của mình.

Một số vấn đề khi nghiên cứu về những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Thứ nhất, tại khoản 2 Điều 51 BLHS “khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án”.  Như vậy, chỉ quy định cụ thể một tình tiết là “Đầu thú”, còn lại việc áp dụng tùy thuộc vào sự đánh giá của Hội đồng xét xử. Việc trao quyền chủ quan cho Hội đồng xét xử xem xét xác định và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trong trường hợp này cũng dễ dẫn đến việc áp dụng không thống nhất, từ đó dẫn đến quyết định của Tòa án không nghiêm. Ngoài ra, trong thực tế, có nhiều trường hợp người phạm tội có rất nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS theo khoản 2 Điều 51 BLHS, nhưng khi áp dụng, trong phần quyết định cũng chỉ xác định là áp dụng khoản 2 Điều 51 BLHS; trong khi đó, người chỉ có một tình tiết cũng áp dụng khoản 2 Điều 51 BLHS (tuy đối với người có nhiều tình tiết ở khoản 2 thì xem xét giảm nhẹ nhiều hơn, nhưng trong thực tế vẫn chưa thật phù hợp). Tất cả các trường hợp vừa nêu đều dẫn đến quyết định trong bản án của Tòa án không đảm bảo tính thuyết phục và tính công bằng trong lượng hình đối với người phạm tội.

Thứ hai, với trường hợp quy định là nhóm các tình tiết khi người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ trong nhóm đó, nhưng chỉ được xem là một tình tiết giảm nhẹ để áp dụng dẫn đến chưa thật sự có lợi cho người phạm tội. Ví dụ, người phạm tội là người có công với cách mạng và cũng là cha của liệt sỹ, nhưng theo quy định chỉ áp dụng tình tiết quy định tại điểm x khoản 1; hoặc người phạm tội vừa có thành tích xuất sắc trong chiến đấu, vừa có thành tích xuất sắc trong công tác, nhưng chỉ áp dụng điểm v khoản 1 của Điều 51 BLHS; Trong khi đó, đối với người phạm tội chỉ thỏa mãn một tình tiết trong nhóm các tình tiết này thì cũng được áp dụng như đối với những người có nhiều tình tiết trong nhóm.

Trên đây là toàn bộ tư vấn của Luật Rong Ba về những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Nếu như bạn đang gặp phải khó khăn trong quá trình tìm hiểu về những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và những vấn đề pháp lý liên quan, hãy liên hệ Luật Rong Ba để được tư vấn miễn phí. Chúng tôi chuyên tư vấn các thủ tục pháp lý trọn gói, chất lượng, uy tín mà quý khách đang tìm kiếm.

Hotline: 0967 741 035
Tư Vấn Online
Gọi: 0967 741 035