Tranh chấp tài sản thừa kế không có di chúc

Trong thười gian gần đây, đội ngũ Luật sư Luật Rong Ba nhận được rất nhiều câu hỏi về việc chia thừa kế, trong đó có trường hợp tranh chấp tài sản thừa kế không có di chúc. Bài viết dưới đây sẽ tư vấn cho quý khách hàng một cách chính xác nhất để giải quyết trường hợp này.

Quy định về tranh chấp tài sản thừa kế không có di chúc

Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Trường hợp người để lại di sản không có di chúc thì những người thừa kế sẽ hưởng di sản theo pháp luật.

Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau (Điều 165 Bộ luật dân sự)

Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật.

Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

 Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

 Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Vậy, chia tài sản thừa kế trong trường hợp không có di chúc sẽ như thế nào

Di sản được chia đều cho những người cùng hàng thừa kế.

Người thừa kế và hàng thừa kế được pháp luật tại Điều 651 Bộ luật dân sự 2015 như sau:

Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Lưu ý:

Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước đó đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Khi phân chia di sản, nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng.

Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện vật; nếu không thỏa thuận được thì hiện vật được bán để chia. (Điều 660 Bộ Luật dân sự)

tranh chấp tài sản thừa kế không có di chúc

tranh chấp tài sản thừa kế không có di chúc

Người không được quyền hưởng di sản

Những người sau đây được pháp luật quy định không được quyền hưởng di sản dù có di chúc hay không, quy định tại Điều 621 Bộ luật dân sự 2015:

Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

Ngoại lệ, những người thuộc trường hợp được nêu trên vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.

Thủ tục chia di sản khi tranh chấp di sản thừa kế không có di chúc

Sau khi có thông báo về việc mở thừa kế, những người thừa kế có thể họp mặt để thỏa thuận những việc sau đây:

  1. a) Cử người quản lý di sản, người phân chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những người này, nếu người để lại di sản không chỉ định trong di chúc;
  2. b) Cách thức phân chia di sản.

Mọi thỏa thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản. Sau đó, tiếp tục ra phòng công chứng để thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa kế và niêm yết công khai.

Thủ tục khởi kiện ra tòa án vụ việc tranh chấp di sản thừa kế không có di chúc

Thời hiệu khởi kiện

Theo quy định tại Điều 623 Bộ luật dân sự 2015 thì thời hiệu yêu cầu chia thừa kế là 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản. Do đó, nếu vẫn còn trong thời hạn này thì người có quyền vẫn được khởi kiện ra Tòa án yêu cầu giải quyết tranh chấp về thừa kế

Tòa án có thẩm quyền giải quyết

Về Tòa án có thẩm quyền giải quyết thì căn cứ Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 là:

Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc;

Các bên nộp đơn yêu cầu thì có thể yêu cầu Tòa án nơi nguyên đơn cư trú, làm việc;

Nếu tài sản tranh chấp là bất động sản thì có thể yêu cầu Tòa án nơi có bất động sản.

Tài liệu, chứng cứ cần có để thực hiện thủ tục khởi kiện

Tài liệu, chứng cứ kèm theo được quy định tại Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 gồm:

Đơn khởi kiện;

Tài liệu, chứng cứ về di sản của người chết để lại;

Giấy khai tử;

Chứng minh nhân dân;

Sổ hộ khẩu…

Cha tôi vừa đột ngột qua đời và không để lại di chúc, vậy mẹ kế có được hưởng thừa kế hay không? Nếu hưởng thì tỷ lệ bao nhiêu?

Cụ thể, cha mẹ tôi có tài sản chung là một căn nhà (cha và mẹ đứng tên trên sổ đỏ), năm 2013 mẹ bị tai nạn giao thông nên qua đời (không để lại di chúc). Năm 2017 cha tôi kết hôn với mẹ kế và ở tại căn nhà đó; khi chết cha tôi cũng chỉ có tài sản là căn nhà, không có tài sản khác. Cha mẹ có hai con là tôi (38 tuổi) và em trai (35 tuổi); ông nội, bà nội và ông ngoại đều chết trước cha mẹ; bà ngoài (92 tuổi) còn sống; cha và mẹ kế có một người con 2 tuổi.

Theo điểm a khoản 1 điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015, trường hợp người mất không có di chúc thì áp dụng thừa kế theo pháp luật.

Theo điểm a khoản 1 điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015, hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.

Căn cứ vào các quy định nêu trên và nội dung bạn trình bày thì việc chia tài sản thừa kế trong trường hợp này được thực hiện như sau:

Giai đoạn 1: Lúc mẹ bạn mất

Vì căn nhà là tài sản chung của cha và mẹ bạn, nên tài sản của mẹ bằng 50% căn nhà, tài sản của cha bằng 50% căn nhà. Khi đó, tài sản là 50% căn nhà của mẹ sẽ được chia đều cho bạn, em trai, cha và bà ngoại; như vậy, mỗi người được hưởng 12,5% căn nhà (50%: 4).

Giai đoạn 2: Lúc cha bạn mất

Khi đó, tài sản của cha bằng 50% căn nhà cộng với 12,5% căn nhà từ thừa kế của mẹ để lại (tổng là 62,5%). Tài sản là 62,5% căn nhà của cha sẽ được chia đều cho bạn, em trai, mẹ kế, con của cha với mẹ kế; như vậy, mỗi người được hưởng 15,625% căn nhà (62.5%: 4).

Tổng kết 2 giai đoạn chia tài sản thừa kế thì tài sản mỗi người nhận được như sau:

– Bà ngoại: 12,5% căn nhà.

– Bạn: 12,5% + 15,625% = 28,125% căn nhà.

– Em trai: 12,5% + 15,625% = 28,125% căn nhà.

– Mẹ kế: 15,625% căn nhà.

– Con của ba và mẹ kế: 15,625% căn nhà.

Câu hỏi: Tôi muốn hỏi luật sư về sự việc của gia đình mình như sau: Bố mẹ tôi đã kết hôn với nhau được hơn 40 năm; nay bố tôi mất vì tai nạn; vì mất đột ngột nên bố tôi không để lại di chúc chia tài sản cho ai cả. Như mẹ tôi kể, trong thời gian chung sống với nhau, bố mẹ có một miếng đất và một căn nhà đã được nhà nước cấp giấy tờ đất, nhà (sổ hồng). Ngoài ra, trước khi bố và mẹ kết hôn ông bà có tặng cho bố tôi một mảnh đất khác.

Hiện tại bố mẹ tôi có 3 người con, ông bà thì đã mất và bố tôi cũng có 5 anh chị ? Vậy tôi muốn hỏi trong trường hợp này, nếu như chia tài sản thì phải chia như thế nào và những người anh chị của bố tôi họ có được hưởng thừa kế không ?  Vì họ đang đòi quyền thừa kế

Tài sản chung của vợ chồng là tài sản vợ và chồng có được trong thời kỳ hôn nhân, gồm có tài sản mà vợ chồng mua được; nhận chuyển nhượng; thu nhập do lao động, sản xuất kinh doanh; hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng; tài sản được tặng choc hung, thừa kế chung.

Điều này cũng có thể hiểu rằng quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau kết hôn được coi là tài sản chung. Trong tình huống của bạn có thể thấy khá rõ phần tài sản: miếng đất và một căn nhà mà bố mẹ bạn có là tài sản chung của vợ chồng.

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, những trường hợp chấm dứt quan hệ hôn nhân như ly hôn và một bên vợ hoặc chồng chết thì phần tài sản chung sẽ được chia đôi.

Đối với trường hợp chồng chết thì tài sản chung sẽ được chia đôi, trong đó một nửa tài sản sẽ thuộc quyền sử dụng, quyền sở hữu của vợ. Phần tài sản còn lại thuộc về quyền sử dụng, quyền sở hữu của chồng và phần này sẽ được chia thừa kế theo pháp luật Dân sự về Thừa kế.

Việc thừa kế được chia theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 thì khi người có tài sản mất không để lại di chúc thì chia di sản thừa kế sẽ chia theo pháp luật. Chia thừa kế theo pháp luật là chia phần di sản thừa kế của người chết theo hàng thừa kế, không theo chỉ định của người có di sản.

Hàng thừa kế theo pháp luật được ấn định gồm có ba hàng thừa kế, cụ thể:

Hàng thừa kế thứ nhất: vợ, chồng, cha, mẹ (gồm cả cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi) của người chết

Hàng thừa kế thứ hai: ông bà nội ngoại; anh, chị, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông bà nội ngoại

Hàng thừa kế thứ ba: cụ nội; cụ ngoại; bác, chú, cậu, cô, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Di sản thừa kế sẽ chia theo thứ tự từ hàng thừa kế thứ nhất; nếu trong trường hợp hàng thừa kế thứ nhất không còn ai hưởng hoặc từ chối hưởng, không được hưởng, bị truất quyền hưởng di sản thừa kế thì mới xét đến hàng thừa kế thứ hai.

Đối chiếu với tình huống của bạn di sản thừa kế của bố để lại sẽ được chia theo pháp luật như sau:

Tài sản riêng bố bạn có trước hôn nhân và một nửa tài sản chung của bố mẹ bạn được chia cho những người ở hàng thừa kế thứ nhất gồm: bố; mẹ (ông bà nội của bạn); mẹ bạn; bạn; và hai người con còn lại ( tổng cộng chia thừa kế thành 6 phần bằng nhau).

Như bạn trao đổi, trong gia đình còn có những người là anh chị của bố bạn. Tuy nhiên trong trường hợp này, những đối tượng là anh, chị của người chết thuộc hàng thừa kế thứ hai; mà như phân tích ở trên thì hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế khi hàng thừa kế thứ nhất không còn ai hưởng hoặc từ chối hưởng, không được hưởng, bị truất quyền hưởng di sản thừa kế. Vì vậy những người anh chị của bố bạn sẽ không được hưởng thừa kế.

Như vậy, Tài sản chung của vợ chồng khi một trong hai người chết thì tài sản chung sẽ được chia đôi cho hai vợ chồng; phần tài sản chia cho người chồng sẽ tiền hành chia thừa kế. Khi chia tài sản thừa kế của một người không để lại di chúc thì sẽ chia theo pháp luật quy định- theo hàng thừa kế, bắt đầu từ hàng thừa kế thứ nhất và những người được hưởng thừa kế cùng hàng với nhau thì được hưởng di sản bằng nhau. Và hàng thừa kế sau sẽ không được hưởng di sản thừa kế khi đi sản đã được chia cho những người ở hàng thứ nhất

Trên đây là toàn bộ tư vấn của Luật Rong Ba về tranh chấp tài sản thừa kế không có di chúc. Nếu như bạn đang gặp phải khó khăn trong quá trình tìm hiểu về tranh chấp di sản thừa kế không có di chúc và những vấn đề pháp lý liên quan, hãy liên hệ Luật Rong Ba để được tư vấn miễn phí. Chúng tôi chuyên tư vấn các thủ tục pháp lý trọn gói, chất lượng, uy tín mà quý khách đang tìm kiếm.

Hotline: 0967 741 035
Tư Vấn Online
Gọi: 0967 741 035